Ngày tham gia: 13/12/2008 Bài gửi: 427 Đến từ: TP HCM
gửi: 19.09.2010 Tiêu đề:
MAIN BATTLE TANK 70
Trên thực tế, có 2 phiên bản MBT70, một phiên bản của Mĩ và một phiên bản của Cộng Hoà Liên Bang Đức. Trong bài này, mình chỉ xin nói về phiên bản của Mĩ.
THÔNG SỐ
Tổ lái: 3 người(lái xe, xạ thủ, xa trưởng)
Trọng lượng rỗng: 48,5t
Trọng lượng chiến đấu: 51,7t
Chiều dài thân xe: 7,18m
Chiều dài toàn bộ: 9,3m
Chiều ngang toàn bộ: 3,5m
Chiều cao toàn bộ: 2,96m
Chiều cao gầm: 0,53m(có thể điều chỉnh từ 0,15 đến 0,63m)
Đường kính vòng xoay tháp pháo: 2,56m
Áp lực đất: 0,907kg/cm2(12,9psi)
Động cơ: Continental AVCR-1100-3 12 xylanh, 4 thì, supercharge, công suất 1475hp@2800rpm
Truyền động: Renk HSWL 354 4 số tiến, 4 số lùi
Dung tích nhiên liệu: 1514l
Tầm hoạt động: 643km
Tốc độ tối đa(đường): 64km/h(ổn định)
Lên dốc: 31độ(60%)
Vượt hào: 2,8m
Vượt vật cản đứng: 1,09m
Độ sâu lội: 2,23m(không chuẩn bị), 4,9m(có chuẩn bị)
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
MBT70 là chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Mĩ và CHLB Đức vào thập niên 1960 nhằm đưa vào sản xuất một loại xe tăng chủ lực thế hệ mới với những tính năng tối tân nhất thời bấy giờ trong thập niên 1970 cho quân đội hai nước.
Bản hiệp định đầu tiên của chương trình không nêu ra bất kỳ yêu cầu cụ thể nào về loại xe tăng chủ lực mới này, nhưng nó đưa ra đề ra công việc đầu tiên là phải lập một bảng danh sách các yêu cầu chung được 2 quốc gia đòi hỏi. Các tổ chức, cơ quan quân sự và dân sự chịu trách nhiệm nghiên cứu, thiết kế và điều phối được lặp ra để kết nối chương trình hợp tác xuyên châu lục này mà đứng đầu là PMB(Program Management Board) do chuẩn tướng(về sau là thiếu tướng) Welborn G. Dolvin chịu trách nhiệm lãnh đạo chương trình ở Mĩ và tướng Fritz Engelmann chịu trách nhiệm tương tự ở CHLB Đức. Hai cơ quan chính của chương trình là Cục kĩ thuật phối hợp(Join Engineering Agency/JEA) và Nhóm thiết kế phối hợp(Joint Design Team/JDT) có đại diện ngang bằng nhau từ 2 nước. Ở Mĩ, tập đoàn General Motors được trao hợp đồng hổ trợ chương trình trong khi ở CHLB Đức, một hiệp hội các nhà công nhiệp với tên gọi Deutsche Entwicklungsgesellschaft/DEG được thành lập vào tháng 7/1964 để làm công việc tương đương. Đức được chọn để làm nơi thực hiện công đoạn thiết kế ban đầu của chương trình và JEA và JDT được đưa đến Augsburg vào tháng 9/1964. Hai cơ quan này được lên kế hoạch di chuyển đến Detroit, Michigan, Mĩ sau khi công đoạn thiết kế ban đầu đã hoàn tất, nhưng nhiều trì hoãn đã ngăn cản điều nay cho đến tận tháng 9/1966. Mặc dù được yêu cầu phải phối hợp chặt chẽ với nhau, các nhóm làm việc bị chia rẽ vì các khác biệt về ngôn ngữ, thực tiễn công nghiệp và các thủ tục kĩ thuật khiến ngay cả các vấn đề nhỏ cũng trở nên khó giải quyết. Vì thế, hầu như mọi quyết định đều phải được sự thỏa hiệp giữa hai bên hoặc sẽ phải đưa lên cấp cao hơn để giải quyết. Điển hình là một thoả hiệp đã không đạt được ở JEA hay PMB vì việc bất đồng trong sử dụng hệ thống đo lường theo hệ của Anh(inch, pound…) hay là theo hệ metric(cm, kg…) và vụ việc phải được đưa lên đến cấp Bộ quốc phòng. Quyết định cuối cùng đưa ra là mỗi nước có thể dùng hệ thống đo lường của mình trong những thành phần mà mình sản xuất nhưng những kết nối giữa các thành phần phải được dùng hệ metric. Bởi vì 2 nước có tiếng nói ngang nhau trong việc thiết kế, nên thực tế có tới 2 sếp trong mỗi nhóm làm việc. Tất cả các khó khăn trên tạo ra sự hỗn loạn cho kế hoạch phát triển ban đầu và thời gian để chọn lựa khái niệm thiết kế bị kéo dài từ 6 tháng dự kiến lên 2 năm trên thực tế. Điều này, dĩ nhiên cũng sẽ tạo ra sự trì hoãn tương đương đối với thời hạn chiếc xe tăng sẳng sàng cho sản xuất.
Việc chuẩn bị các đặc điểm chung cho loại xe mới cũng đòi hỏi phải hoà hợp nhiều nhiều yếu tố trái ngược nhau. Ví dụ như người Đức muốn một chiếc tăng được dùng chủ yếu ở Trung Âu trong khi người Mĩ lại muốn một chiếc xe tăng phù hợp cho hoạt động khắp thế giới. Cả 2 nước đều muốn một môi trường có kiểm soát cho tổ lái với giáp bảo vệ và chống phóng xạ tối đa ở trọng lượng thấp nhất có thể. Đức thích loại pháo tốc độ đạn cao để làm vũ khí chính trong khi Hoa Kì lại tin rằng tên lửa là cực kì quan trọng đối với độ chính xác ở tầm xa. Vũ khí phụ của xe được yêu cầu phải chống được cả mục tiêu trên bộ lẫn trên không. Để đạt các yêu cầu chung này, một lượng lớn các thiết kế đã được xem xét tại Augsburg. Chúng bao gồm gần như mọi thiết kế xe tăng đã được nghiên cứu trước đó tại Detroit cũng như một số mẫu mới. Các thiết kế bao gồm từ kiểu xe không tháp(casemate) với pháo có tầm xoay hạn chế cho khẩu pháo chính cho đến thiết kế dạng khoang(pod) với khẩu pháo chính được lắp bên ngoài. Thiết kế quy ước được xem xét với lái xe ở thân trước và nhiều kiểu tháp pháo. Tuy nhiên, thiết kế lái xe ngồi chung trong tháp pháo được nhóm Hoa Kì ưa thích. Một thiết kế của Đức đặt toàn bộ tổ lái trong một tháp pháo dạng hình cầu được ổn định 3 trục.
Thiết kế xe tăng kiểu casemate ở bên phải và kiểu pod ở bên trái Thiết kế xe tăng với tháp pháo dạng cầu của Đức
Để đánh giá các thiết kế được đưa ra, một hợp đồng đã được giao cho công ty Lockeed Missiles and Space để thực hiện một nghiên cứu về hiệu quả chi phí dựa trên thiết kế toán học. Nghiên cứu này sử dụng một mô hình toán học của một xe tăng có thể được hoán cải để đại diện cho các bản thiết kế. Các phân tích của máy tính sau đó đánh giá hiệu quả của các cấu hình xe tăng với nhiều thành phần được đưa ra đối đầu với các nguy cơ được mong đợi trong các điều kiện chiến đấu khác nhau. Bằng cách này, số lượng các ứng viên giảm xuống còn lại 5. Mô hình tỉ lệ thật của 5 chiếc này được chế tạo và đưa đến các nghiên cứu sâu hơn, cuối cùng giảm xuống chỉ còn lại 2 thiết kế cho quyết định cuối cùng. Và mẫu xe cuối được chọn mang các yếu tố kết hợp từ 2 ứng viên trên, các thành phần chính của xe được giao cho các nhóm của Đức hoặc Mĩ để thiết kế và chế tạo. Tuy nhiên, các phát triển song song vẫn được tiếp tục ở một số bộ phận để cung cấp bản dự phòng trong trường hợp ứng viên chính thất bại.
Thiết kế cơ bản được chọn cho MBT70
Như đã nói trước, nhóm Hoa Kì thích sử dụng phiên bản mới của loại pháo-ống phóng 152mm để làm vũ khí chính cho loại xe tăng mới. Hệ thống vũ khí XM81 nguyên thuỷ được kéo dài và người ta cũng bắt đầu nghiên cứu loại đạn xuyên giáp động năng cho pháo. Mang tên mã XM150, hệ thống pháo-ống phóng mới này cũng có thể bắn các loại đạn 152mm có sẳn. Các phát triển tiếp tục của tên lửa Shillelagh làm kéo dài tầm bắn và cải thiên độ tin cậy của nó. Mặc dù người Mĩ đã thuết phục được người Đức chọn thiết kế lái xe trong tháp pháo, nhưng việc sử dụng pháo-ống phóng 152mm không được nhười Đức mặn mà lắm. Đức vẫn tiếp tục phát triển loại pháo có tốc độ cao 120mm và lên kế hoạch trang bị ít nhất vài chiếc tăng của họ với loại vũ khí này.
Sau khi đã chọn lựa được mẫu thiết kế, JEA và JDT được di chuyển từ Augsburg đến Detroit vào tháng 7/1966. Theo kế hoạch ban đầu, 8 xe tăng nguyên mẫu được cho phép sản xuất bởi mỗi nước, tuy nhiên, con số về sau giảm xuống chỉ còn 6. Nguyên mẫu đầu tiên được hoàn thành tại Hoa Kì vào tháng 7/1967 và được trưng bày cho công chúng lần đầu tiên vào tháng 9, cùng lúc với nguyên bản đầu tiên của Đức ra đời. Cả 2 đều chỉ là nguyên bản thử nghiệm độ cơ động và không được lắp bất kỳ thiết bị điều khiển hoả lực nào. Phần phía trước của thân xe và tháp pháo được bảo vệ bởi giáp rỗng và không gian dự phòng được làm để lắp lớp chắn phóng xạ nhằm đạt tỉ lệ làm loãng 20:1. Chiếc xe tăng mới này có tổ lái 3 người bao gồm xa trưởng, lái xe và xạ thủ. Hệ thống nạp đạn tự động nằm ở khoang sau tháp pháo loại bỏ yêu cầu về người nạp đạn. Tuy nhiên, nó không được lắp đặt trên nguyên bản đầu tiên. Toàn bộ tổ lái được đặt trong tháp pháo với lái xe ngồi trong một khoang dạng con nhộng(capsule) xoay đối nghịch lại với hướng xoay của tháp pháo nằm ở góc trái phía trước tháp pháo(nếu nhìn từ sau xe). Xạ thủ ngồi ở góc trước bên phải và xa trưởng ngồi ngay phía sau anh ta. Vối bố trí này, môi trường trong tháp pháo có thể được kiểm soát để chống lại tác nhân sinh hoá cùng với hệ thống làm mát/ sưởi ấm tạo sự thoải mái cho tổ lái. Một lưới cản đạn ở phần thân trên bên trái sườn xe che phủ bộ phận lấy khí cho thiết bị kiểm soát môi trường trong xe. Một hách thoát hiểm khẩn cấp được đặt ở dưới gầm tháp pháo. Tuy nhiên, vánh trượt cần phải được tháo ra và đẩy về một bên trước khi nó có thể sử dụng được. Để giàm trọng lượng, hách thoát hiểm được làm từ titan đúc.
MIÊU TẢ
MBT70 có thiết kế khá khác biệt so với các loại xe tăng bình thường khác, với toàn bộ tổ lái ngồi trong tháp pháo thay vì có lái xe ngồi ở thân xe trước. Kiểu thiết kế này nhằm gộp chung tổ lái lại ở trong khu vực có môi trường được kiểm soát và có lớp chắn phóng xạ.
Vị trí của lái xe bao gồm một khoang dạng capsule với ghế ngồi và mặt phẳng được treo vào nóc tháp pháo. Cupola nhỏ ở phía trên ghế ngồi bao gồm một hách ra vào và 3 kính quan sát. Ghế ngồi và mặt phẳng của lái xe là loại có thể điều chỉnh độ cao bằng thuỷ lực cho phép lái xe điều khiển xe khi đang ngồi hoặc đứng khom người. Tư thế đứng khom người được dùng khi đầu của lái xe lộ diện ra ngoài hách. Khoang capsule của lái xe luôn xoay đối nghịch lại với hướng xoay của tháp pháo để giữ cho lái xe luôn hướng về phía trước(vị trí 0 độ hoặc 12h) bất chấp góc của tháp pháo. Nó cũng có thể được khoá vào vị trí xoay nghiêng 50 độ về bên phải hoặc bên trái hoặc xoay về phía sau(vị trí 180 độ hoặc 6h). Vị trí xoay nghiêng 50 độ là nhằm cho phép lái xe sử dụng 1 trong 2 kính quan sát hai bên trong trường hợp kính quan sát chính bị hỏng. Bảng thông báo và điều khiển chính của lái xe được lắp dính vào trong khoang capsule, nhưng bảng dự phòng được gắn vào tháp pháo ở bên trái lái xe. Để dự phòng cho hệ thống điều khiển bằng điện, các thiết bị điều khiển khẩn cấp cơ học được lắp đặt trong thân xe ngay cạnh khoang lái xe. Tuy nhiên, cả khoang capsule lẫn tháp pháo phải được khoá vào vị trí hướng mặt về phía trước để có thể sử dụng chúng.
Xạ thủ của xe được trang bị một hách ra vào ở nóc tháp pháo trên đầu anh ta. Ghế ngồi của anh ta được đóng vào thành của rổ xoay tháp pháo bằng nhôm và nó có thể điều chỉnh bằng cơ học. Cùng với thiết bị quan sát chính, một kính quan sát được cung cấp để tăng khả năng xác định mục tiêu và quan sát địa hình. Thiết bị quan sát phụ trợ của xạ thủ là một kính nhắm có khớp lắp ở bên phải khẩu pháo bên trên súng máy đồng trục. Kính quan sát này có khả năng quan sát hồng ngoại để hoạt động trong đêm nhờ vào sự chiếu sáng hồng ngoại của chiếc đèn dò.
Khoang capsule của lái xe(bên trái) và vị trí của xạ thủ(bên phải)
Xa trưởng của xe ngồi ở góc phải phía sau của tháp pháo, đằng sau xạ thủ, bên dưới một cupola có 1 hách ra vào và 6 kính quan sát cung cấp vùng quan sát 360 độ để quan sát cự li gần xung quanh xe. Nắp che hách của xa trưởng và lái xe là loại có thể thay thế cho nhau. Thiết bị quan sát toàn cảnh và quan sát đêm được gắn ở nóc tháp pháo, bên phải và bên trái phía trước cupola. Ghế ngồi và mặt phẳng để chân được gắn vào rỗ tháp pháo và có thể được điều chỉnh độ cao bằng thuỷ lực. Các thiết bị điều khiển cho phép xa trưởng làm thế tạm thời công việc của xạ thủ hay lái xe trong trường hợp khẩn cấp để khai hoả pháo chính hay lái xe. Trong trường hợp sau, xa trưởng có thể điều khiển xe di chuyển, nhưng anh ta không thể dừng hay khởi động động cơ.
Có 3 hệ thống cung cấp năng lượng phụ trợ hoạt động nhờ động cơ chính của xe để tạo ra điện và năng lượng thuỷ lực. Hệ thống điện bao gồm máy phát điện xoay chiều 3 pha có đầu ra 20kW ở 28V và 8 pin 12V cung cấp dòng điện một chiều 24V. Hai hệ thống thuỷ lực được cung cấp cho xe. Một hệ thống hoạt động ở 1500psi để vận hành tháp pháo và hệ thống nạp đạn tự động trong khi hệ thống còn lại tạo ra 3000psi để vận hành hệ thống treo thuỷ hơi (hydropneumatic).
…
Ngày tham gia: 13/12/2008 Bài gửi: 427 Đến từ: TP HCM
gửi: 27.09.2010 Tiêu đề:
HOẢ LỰC
Vũ khí chính của xe tăng MBT70 phiên bản của Mĩ là pháo-ống phóng 152mm XM150E5. Đây là phiên bản kéo dài nòng so với loại pháo 152mm của xe tăng M551 Sheridan và M60A2. Nó có thể phóng tên lửa Shillelagh và bắn các loại đạn thông thường có vỏ đạn cháy được dùng cho pháo 152mm nòng ngắn nhưng với sơ tốc cao hơn một chút. Ngoài ra, một loại đạn xuyên giáp động năng đã được phát triển và hy vọng rằng có thể bằng hoặc vượt mặt loại đạn APDS của pháo 105mm M68.
Đạn XM578E1 APFSDS(trái) và đạn XM617 flechette(phải)
26 viên đạn pháo chính được mang trong máy nạp đạn tự động ở khoang sau tháp pháo. Máy nạp đạn này ban đầu được hãng Rheinmentall thiết kế để dùng chung cho 2 loại xe tăng của Mĩ và Đức. Tuy nhiên, về sau, một máy nạp đạn được hãng General Motors đã được gắn lên các nguyên mẫu xe tăng MBT70 của Mĩ, máy này mang 28 viên đạn thay vì 26 như loại của Đức. Lối tiếp cận vào máy nạp đạn là một cửa bản lề nằm ở mặt dưới của khoang sau tháp pháo và chỉ sử dụng được khi tháp pháo xoay ngang 90 độ so với thân xe. Máy nạp đạn của MBT70 bao gồm băng đạn xoay theo phương thẳng đứng, chứa các viên đạn đặt trên một “băng xích” liền và bộ phận đẩy đạn vào buồng đạn của pháo chính. Có 5 loại đạn có thể được chọn bao gồm đạn nổ mạnh, xuyên giáp động năng, đạn bee-hive chống bộ binh, đạn phốtpho trắng hoặc tên lửa Shillelagh. Khi nạp đạn, băng đạn sau khoang tháp pháo sẽ đưa viên đạn được chọn vào vị trí để nạp đạn. Đồng thời, khẩu pháo-ống phóng được ngắt tạm thời khỏi hệ thống cân bằng và chuyển về vị trí nâng 0 độ và khoá thẳng hướng với ống nạp đạn. Viên đạn sau đó được đẩy từ băng đạn, qua ống nạp đạn rồi vào khoá nòng của khẩu pháo. Sau khi đã nạp đạn xong, khẩu pháo chính sẽ được kết nối tự động trở lại với hệ thống cân bằng. Tốc độ bắn dự kiến của máy nạp đạn của Rhenmeintall là 10phát/phút với đạn thường và xe đứng yên. Các viên đạn dự trữ trong thân xe có thể được đưa vào máy nạp đạn thông qua một cỗng nhỏ trên thành sau của khoang sau tháp pháo. Tổ lái cũng có thể nạp đạn thủ công trực tiếp vào ống nạp đạn để đưa đạn vào pháo. 8 viên đạn pháo 152mm được đặt trong một khoang ngăn cách nằm sau rổ tháp pháo và chỉ có thể tiếp cận được thông qua một lối hở ở vị trí lái xe. 12 viên đạn pháo khác đặt trong rỗ tháp pháo ở phía trước và sau lái xe, nâng cơ số đạn tổng cộng lên 46 viên.
Máy nạp đạn của hãng General Motors
Vũ khí phụ của MBT70 là một pháo tự động 20mm Rheimentall RH202 điều khiển từ xa, gắn vào một khoang kín nước ở góc trái phía sau tháp pháo. Khi không sử dụng, khẩu pháo này sẽ được đặt dưới nắp bảo vệ, hướng nòng súng về phía sau xe, dọc theo tháp pháo. Khi được kích hoạt, 2 nắp bảo vệ phía trên sẽ mở ra và bệ súng được nâng lên, cung cấp vùng bắn 360 độ. Nó có thể được điều khiển bởi xa trưởng hoặc xạ thủ. 2 băng đạn chứa tổng cộng 750 viên được đặt ngay bên trong bệ súng. 2 loại đạn có thể được chọn lựa. Súng có tầm xoay 360 độ và tầm nâng hạ từ -10 đến +65 độ để tiêu diệt các mục tiêu trên bộ và trên không.
Một súng máy đồng trục 7,62mm M73 được đặt ở bên phải của pháo chính, bên dưới thiết bị quan sát phụ trợ của xạ thủ. Các băng đạn gồm 3000 viên đạn 7,62mm được đặt ở thành trước rổ tháp pháo và được nối với khẩu M73. Ngoài ra còn có 3000 viên đạn khác đặt trong 15 thùng đạn để ở dưới gầm rổ tháp pháo.
MBT70 được trang bị hệ thống điều khiển hoả lực tinh vi và phức tạp, cho phép xa trưởng làm thay thế nhiệm vụ của xạ thủ trong trường hợp phức tạp. Máy tính đạn đạo là một máy phân tích các tín hiệu khác nhau bao gồm các tín hiệu điện 1 chiều, xoay chiều, nhị phân, xung đến từ các cảm biến của nó, tay cầm điều khiển của xạ thủ, máy đo gia tốc, thiết bị quan sát chính của xạ thủ, máy đo góc tháp pháo, thiết bị tìm tầm laser cũng như các tín hiệu on-off từ thiết bị kiểm soát vũ khí của xạ thủ, thiết bị kiểm soát tầm bắn của xạ thủ và các tay cầm điều khiển của xạ thủ. Nhiều thiết bị cảm biến bao gồm cảm biến đo độ cong của pháo để dự đoán sự chênh lệch của nòng pháo do nhiệt độ thay đổi và một cảm biến đo thông số không khí để đo đạc nhiệt độ không khí, áp suất và tốc độ gió ngang. Một con quay hồi chuyển cũng được dùng để cung cấp thông tin về độ nghiêng của xe cho máy tính đạn đạo.
Ngoài 6 kính quan sát xung quanh, thiết bị quan sát toàn cảnh và thiết bị quan sát đêm cung cấp cho xa trưởng vùng quan sát 360 độ và cho phép người này sử dụng pháo chính, đồng trục hay khẩu pháo tự động 20mm. Thiết bị quan sát chính của xạ thủ gắn ở góc phải phía trước nóc tháp pháo được tích hợp thiết bị tìm tầm laser và thiết bị theo dõi đường bay của tên lửa. Các thiết bị quan sát toàn cảnh của xa trưởng, thiết bị quan sát chính của xạ thủ, pháo chính 152mm, vũ khí phụ 20mm và bộ truyền tín hiệu tên lửa đều được ồn định theo 2 phương ngang và dọc. Thiết bị truyền tín hiệu đến tên lửa nằm ở mặt bên trái của tháp pháo và có một lớp vỏ giáp bọc bảo vệ, khi tên lửa đang bắn đi thì 2 nắp chắn phía trước phải được mở ra. Có hai loại thiết bị quan sát đêm được cung cấp cho xa trưởng. Loại thứ nhất là loại quan sát đêm trực tiếp sử dụng một ống khuếch đại ánh sáng được quan sát qua một thấu kính. Loại thứ hai sử dụng một camera ánh sáng thấp chuyển hình ảnh đến một màn hình TV ở vị trí của xa trưởng và xạ thủ cho phép cả hai dùng thiết bị này. Một đèn chiếu xenon của Đức được lắp vào mặt bên trái cạnh pháo chính. Tương tự như loại dùng trên các xe tăng Leopard của Đức, nó cung cấp ánh sáng trắng lẫn ánh sáng hồng ngoại. Các xe tăng chỉ huy cũng được dự liệu gắn thêm một hệ thống định vị trên bộ tự động báo cáo vị trí và hướng di chuyển của xe. Một camera cũng được lắp ở bên trái mặt nghiêng thân trước xe để cung cấp cho lái xe tầm quan sát gần phía trước xe. Hình ảnh được truyền một màn hình TV ở vị trí của lái xe. Màn hình này cùng loại với màn hình của xa trưởng và xạ thủ. Khi lặn sâu, camera này được dời đến đính của một trong các ống “thở” của xe. Một thiết bị quan sát đêm bị động cũng có thể được gắn từ bên trong xe để thay thế kính quan sát trung tâm của lái xe.
BẢO VỆ
Lớp giáp bảo vệ của tháp pháo bao gồm 2 lớp: lớp bên trong làm từ thép đồng chất đúc và lớp bên ngoài làm từ thép cán có độ cứng cao, ở giữa 2 lớp là một khoảng trống giúp tăng khả năng bảo vệ của xe trước các loại đạn nổ lỏm. Thân xe được làm từ các tấm thép đồng chất cán, đúc và một số tấm giáp nhôm được hàn lại.
Hệ thống chống NBC của MBT70 bao gồm hệ thống tăng áp kiểm soát môi trường, thiết bị phát hiện hoá chất và phóng xạ cùng với một lớp lót ngăn tia phóng xạ. Xe có hệ thống phát hiện và chữa cháy tự động bằng khí halon cùng với một bính chữa cháy khí halon cá nhân đặt trong tháp pháo.
Tám bộ phóng lựu đạn khói được đặt ở hai bên khoang sau tháp pháo, bốn bộ ở mỗi bên. Mỗi bộ gồm 2 ống. Chúng được kích hoạt từ vị trí của xa trưởng.
DI ĐỘNG
Xe tăng MBT70 của Mĩ được cung cấp động lực từ động cơ Continental AVCR-1100-2 hoặc AVCR-1100-3 diesel, làm mát bằng khí. Khác biệt chủ yếu giữa 2 loại là thể tích toàn phần. Đường kính xy lanh 4 7/8 inch của loại AVCR-1100-2 được làm rộng lên 5 3/8 inch ở loại AVCR-1100-3. Điều này làm tăng thể tích toàn phần từ 1120 inch vuông lên 1360 inch vuông trong khi chiều dài vẫn là 5 inch. Cả 2 loại động cơ trên đều có công suất 1475 mã lực ở 2800rpm. Động cơ xe vẫn còn trong quá trình phát triển và việc tăng thể tích là nhằm làm tăng độ bền của động cơ khi hoạt động ở công suất tối đa. Động cơ AVCR đặt công suất đầu ra cao nhờ vào việc dùng các piston có tỉ số nén điều chỉnh được. Được kích hoạ bằng áp suất thuỷ lực, các piston này cho phép hoạt động ở tỉ số nén cao(22:1) khi bắt đầu nhưng hạn chế áp suất tối đa của xylanh bằng cách giảm tỉ số nén(xuống còn 10:1) khi áp lực lên động cơ tăng lên. Để tránh nhầm lẫn trong quá trình đấu thầu, loại động cơ có thể tích toàn phần lớn được gọi là AVCR-1100-3 mặc dù điều này không theo đúng phép đặt tên thông thường. Về sau, một phiên bản nâng cấp của loại động cơ này đươc mang tên chuẩn là AVCR-1360. Cùng với động cơ là hệ thống truyền động Renk HSWL 354 của Đức. Bộ phận này có các tính năng: 4 số tiến và 4 số lùi, sang số tự động và thủ công, lái thuỷ tỉnh và phanh thuỷ động lực học. Xích của xe là loại mắc đôi Diehl 170 rộng 635mm và có các miếng cao su có thể tháo rời.
Động cơ Continental AVCR-1100
Hệ thống treo thuỷ hơi được phát triển bởi công ty National Water Lift ở Mĩ và Frieseke und Hoepner GmbH ở Đức. Phiên bản của công ty National Water Lift được dùng cho các nguyên mẫu số 1 và 2 của Mĩ trong khi phiên bản của Đức được dùng trên các xe còn lại. Cả 2 loại đều được kết nối với 12 bánh xe đi đường, 6 bánh ở mỗi bên xích. Hệ thống thuỷ lực 3000psi kiểm soát tách biệt 4 nhóm thiết bị treo ở vị trí bánh đi đường, mỗi nhóm gồm 3 vị trí. 4 nhóm này nằm ở các góc trước phải, trái và sau phải, trái. Vì thế, bằng cách điều chỉnh độ cao treo ở các góc, chiếc xe tăng có thể được nâng cao, hạ thấp hay nghiêng về các hướng. Hệ thống điều khiển cho hệ thống treo của công ty National Water Lift được đặt cạnh vị trí của xạ thủ, cho phép điều chỉnh độ cao ở từng phần của xe. Nó được xạ thủ điều chỉnh theo lệnh của xa trưởng. Độ căng của xích xe cũng có thể được điều chỉnh bằng cách dời các bánh chuyển hướng ở mỗi băng xích.Bình thường thì độ căng của xích được điều chỉnh tự động khi nâng hay hạ thân xe. Tuy nhiên, nó cũng có thể được điều chỉnh riêng biệt.
Ở khoang động cơ sau thân xe, có hai lỗ tròn bọc lưới lớn nằm trên nóc cung cấp không khí vào cho động cơ xe. Khí thải và không khí làm mát của động cơ được trộn và thải ra ngoài qua lớp lưới hình chữ nhật đặt ở thành sau thân xe.
Hệ thống nhiên liệu của xe bao gồm 2 bình nhiên liệu bằng nhôm nằm hai bên khoang động cơ và một bình bằng cao su nhiều lớp đặt ở thân trước xe. Bơm nhiên liệu trong mỗi bình bơm nhiên liệu đến một bình tích trữ, tại đây, bơm của động cơ sẽ chuyển nhiên liệu đến bầu lọc xăng và động cơ. 2 lớp ngăn cách bọc giáp kín nước ngăn cách tổ lái khỏi các bình nhiên liệu ở đầu và cuối xe. Để giảm trọng lượng, nhôm được dùng để làm gầm khoang động cơ và cửa khoang động cơ.
MBT70 có thể lội qua chổ nước sâu tới nóc xe mà không cần chuẩn bị đặc biệt. Điều này được thực hiện bằng cách đóng các lổ hở, thổi phồng một số niêm và bật các “ống thở” đặt ở 2 góc sau xe. Với một bộ thiết bị lặn sâu, chiếc xe có thể lặn sâu 6m. Thử nghiệm cho thấy khoang động cơ của nguyên mẫu xe tăng MBT70 của Mĩ đã bị ngập khi lội nước.
KHÓ KHĂN VÀ HUỶ BỎ
Khi mà các thành phần đã trở nên tiếp cận được, các cuộc kiểm tra các nguyên mẫu được tiến hành ở Mĩ và Đức. Nguyên mẫu xe đầu tiên của Mĩ được đưa đến bãi thử Aberdeen vào cuối năm 1969. Không cần phải nói, nhiều vấn đề đã phải được giải quyết với các hệ thống cực kì phức tạp của của chiếc xe tăng mới. Ở Đức, người ta gặp nhiều khó khăn với nhiều bộ phận của hệ thống điều khiển hoả lực và với máy nạp đạn của hãng Rheinmentall. Khó khăn sau đã dẫn đến việc máy nạp đạn của hãng General Motors được dùng để gắn lên các nguyên mẫu MBT70 của Mĩ. Động cơ Continental AVCR-1100 tuy đã được cải tiến thể tích xy lanh nhưng nhiều nghi vấn vẫn còn đó. Ngoài ra, tháp pháo do Mĩ chế tạo không thể hiện thoả mãn mà không có các thay đổi. Mặc dù vậy, các tiến bộ đáng kể đã được tạo ra và các xe nguyên mẫu thể hiện vượt trội khi tính đến tốc độ và sự di động. Khẩu pháo-ống phóng 152mm cũng hoạt động tốt khi các khó khăn về tên lửa và vỏ đạn đã được giải quyết. Tuy nhiên, các quan điểm khác biệt giữa đại điện của Mĩ và Đức lại một lần nữa nổi lên. Điển hình là chiếc tăng hiện đã vượt quá giới hạn trọng lượng đề ra ban đầu đến 4 tấn. Người Mĩ không cho rằng đây là quan trọng so với mức độ bảo vệ mà xe cung cấp. Nhưng, đối với người Đức, đây là một khuết điểm nghiêm trọng và họ yêu cầu thay đổi thiết kế để giảm tải. Người ta cho rằng có thể giảm một phần trọng lượng của xe bằng cách bỏ lớp lót cản phóng xạ, và điều này dẫn đến những chống đối mới. Một trong những lý do để chọn kiểu thiết kế lái xe-trong-tháp pháo là để dễ dàng cung cấp lớp chắn phóng xạ cho toàn bộ tổ lái trong một không gian gần. Nếu như sự bảo vệ này không còn được yêu cầu nữa, có lẽ người ta phải cân nhắc sự thay đổi thiết kế toàn bộ của xe.
Tất cả các vấn đề trong quá trình phát triển và thay đổi đã dẫn đến kết quả làm chậm lại và tăng giá của chương trình. Tháng 9/1969, phó bộ trưởng quốc phòng David Packard đã yêu cầu xem xét lại toàn bộ chương trình. Bản báo cáo của quá trình xem xét lại dự đoán rằng chi phí để hoàn tất việc phát triển và chế tạo sẽ tốn 544 triệu $ và chiếc xe tăng mới sẽ có giá 1,2 triệu $ mỗi chiếc, gấp 5 lần giá ước tính ban đầu(giá một chiếc M1 Abrams về sau chỉ 750.000$). Và vào ngày 20/1/1970, các tin tức được đưa ra từ Bộ quốc phòng đã cho thấy sự kết thúc của chương trình. Sau đó, Mĩ và Đức tan đàn xẻ nghé, mỗi quốc gia tiếp tục phát triển và sản xuất một chiếc xe tăng chủ lực phù hợp với yêu cầu riêng của mình. Ở Đức, kết quả là chương trình Leopard II. Còn ở Mĩ, chiếc MBT70 được đơn giản hoá thành XM803 để giảm chi phí và được thiết kế lại để sử dụng các bộ phận do Mĩ sản xuất. Tuy nhiên, chương trình XM803 này cũng kết thúc mà không có kết quả và phải ngường chổ cho chương trình XM1 Abrams.
Nguồn:
Abrams, A History of the American Main Battle Tank Vol2(ebook)
Globalsecurity.org
Battletanks.com
Ngày tham gia: 13/12/2008 Bài gửi: 427 Đến từ: TP HCM
gửi: 14.06.2011 Tiêu đề:
DÒNG XE LVTP5
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
Khi mà chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, một lượng lớn những xe đổ bộ bánh xích LVT(Landing Vehicle, Tracked) được sử dụng bởi lục quân, hải quân và lính thuỷ đánh bộ Mĩ. Vào thời điểm đó, việc sản xuất LVT bị ngưng lại và chỉ những loại LVT mới nhất như LVT3 và LVTA5 là còn được giữ lại trong khi các loại xe cũ hơn bị loại bỏ. Mặc dù là các phiên bản mới nhất, tuy nhiên các xe LVT vẫn có hạn chế là chúng hở nóc, vì thế không chỉ không an toàn được trước các loại đạn pháo nổ trên không mà còn không giữ được cho binh lính và hàng hoá trong xe khô ráo khi hoạt động trong vùng biển động.
LVT3(bên trái) và LVTA5(bên phải)
Việc nghiên cứu phát triển các loại LVT mới được nhanh chóng khởi đầu ngay sau khi chiến tranh thế giới kết thúc. Nhiều mẫu LVT khác nhau được các nhà sản xuất thiết giáp lớn của Mĩ như tập đoàn FMC, công ty Pacific Car and Foundry, tập đoàn Continental Aviation and Engineering, Baldwin-Lime-Hamilton… đưa ra với nhiều chức năng khác nhau như chở quân, hàng hoá, xe cộ, mang lựu pháo 105mm… Trong số các sản phẩm đó, một mẫu xe về sau có tương lai khá khẩm hơn các đồng loại khác là mẫu LVTPX2 của FMC được tập đoàn này giới thiệu cho Bộ tàu biển năm 1951. Đây là phiên bản phát triển dựa trên các thành phần của mẫu xe thiết giáp chở quân T59/T59E1. Năm nguyên mẩu LVTPX2 được chế tạo từ 1952 đến 1955. Ba hệ thống động lực cũng được nghiên cứu đánh giá. Mẫu xe này có trọng lượng 19,8t bao gồm 3,15t trọng tải, tốc độ trên bộ là 56km/h và dưới nước là 8km/h. Mẫu xe này sau đó được đặt tên mã LVTP6, tuy nhiên nó không được đưa vào sản xuất.
LVTP6
Sau khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào năm 1950, một chương trình cấp tốc được khởi động nhằm sản xuất một loại LVT để làm một mẫu cơ bản để từ đó phát triển thành một dòng xe mới-dòng LVTP5. Chiếc xe này sẽ được tích hợp những tính năng tốt nhất là kết quả của các chương trình nghiên cứu phát triển trước đó. Tháng 12/1950, Bộ tàu biển chọn phân nhánh Ingersoll Products của tập đoàn Borg-Warner làm đơn vị thiết kế trung tâm của chương trình. Việc nghiên cứu thiết kế bắt đầu vào tháng 1/1951 và đến tháng 8, nguyên mẫu sản xuất đầu tiên được đưa ra từ dây chuyền sản xuất. Đây là chiếc LVTH6, phiên bản vũ trang với 1 khẩu lựu pháo 105mm.
LVTH6
Từ mẫu LVTH6 ban đầu này, người ta đã phát triển ra các phiên bản:
LVTP5: Phiên bản chở lính
LVTC5/LVTP5(CMD): Phiên bản chỉ huy
LVTR1: Phiên bản cứu kéo
LVTE1: Phiên bản công binh
LVTAA-X1: Phiên bản phòng không(chỉ có 1 nguyên mẫu được chế tạo)
MIÊU TẢ LVTH6 THÔNG SỐ:
Tổ lái: 7 người
Trọng lượng chiến đấu: 39,3t(bộ); 38,2t(thuỷ)
Chiều dài toàn bộ: 9,01m
Chiều ngang toàn bộ: 3,57m
Chiều cao toàn bộ: 4,08m
Chiều cao gầm: 0,28-0,43m
Áp lực mặt đất: 9,1 psi
Động cơ: Continetal LV-1790-1, V12, làm mát bằng chất lỏng, công suất 810hp@2800rpm, nhiên liệu xăng
Truyền động: Allison CD-850-4A hoặc CD-850-4B 2 số tiến, 1 số lùi
Dung tích nhiên liệu: 1726l
Tầm hoạt động:305km(đường)/ 91km(dưới nước)
Tốc độ tối đa:48km/h(đường)/ 11km/h(dưới nước)
Lên dốc: 31 độ
Vượt hào: 3m
Vượt vật cản đứng: 0,9m
LVTH6
LVTH6 là một chiếc xe lớn có hình dạng tương tự như 1 xà lan đổ bộ. Mũi xe cũng là cửa sập để ra vào được thiết kế có hình dạng chữ V ngược để hoạt động hiệu quả hơn dưới nước. Bộ trí trong xe có thể được chia làm hai phần, phần phía sau là khoang động cơ, phần phía trước chứa tháp pháo và chổ ngồi cho lái xe, phụ lái. Tổ lái của xe gồm 7 người: lái xe ngồi ở góc trái phía trước, phụ lái ngồi ở góc phái phía trước, xạ thủ và xa trưởng ngồi ở bên phải tháp pháo, 1 người nạp đạn ngồi bên trái tháp pháo, 2 người chuyển đạn còn lại không có chổ cố định. Xạ thủ được trang bị 1 kính quan sát toàn cảnh T149E2 và kính nhắm bắn thẳng T150E2. Cupola của xa trưởng được gắn 5 kính quan sát. Tất cả các thiết bị quan sát trên đều là loại kính tiềm vọng. Ngoài cửa sập ra vào chính ở trước xe, người ta còn có thể ra vào xe nhờ 2 hách nằm 2 bên sườn xe hoặc 1 hách trên nóc, ngay sau tháp pháo. Các khung chứa đạn của xe có thể mang 151 viên đạn pháo 105mm.
Bên trong LVTH6, nhìn từ trước xe
Đằng sau xe là khoang động lực chứa động cơ Continetal LV-1790-1, V12, làm mát bằng chất lỏng, công suất 810hp và hệ thống truyền động Allison CD-8504B. Động cơ được nối với 2 bộ tản nhiệt nằm trong 2 khoang kín nước ở 2 bên sườn xe. Khi hoạt động trên bộ, bộ làm mát vận hành bằng 1 quạt gió do động cơ cung cấp năng lượng, khi hoạt động dưới nước, quạt gió được tắt để bộ tản nhiệt được làm mát bằng nước.
...
Ngày tham gia: 13/12/2008 Bài gửi: 427 Đến từ: TP HCM
gửi: 18.06.2011 Tiêu đề:
Hệ thống treo cuả xe là loại torsilastic với 9 cặp bánh chịu tải, 5 cặp bánh đỡ xích. Xe không có thiết bị giảm xóc. Xích xe làm bằng thép, bề ngang 52,71cm, phần xích tiếp xúc đất dài 5,82m.
Xe có lớp giáp làm bằng thép cán đồng chất đựơc hàn lại. Giáp thân xe có độ dày từ 6,35mm đến 15,9mm, lơp1 giáp tháp pháo có độ dày: 25,4mm(trước), 19mm(hai bên), 6,35mm(nóc). Xe còn có 4 bình chữa cháy CO2 2,3kg, 3 bình gắn cố định và 1 bình di động.
Hệ thống hoả lực của xe bao gồm một lựu pháo M49(T96E1) 105mm và một súng máy đồng trục M1919A4E1 .30cal(7,62mm) đặt trong tháp pháo. Một súng máy M2HB .50cal(12,7mm) cũng có thể được gắn trên nóc tháp pháo. Tháp pháo được xoay bằng thuỷ lực hoặc bằng tay, tốc độ xoay 21 độ/s và có góc nâng hạ từ +59 đến -4,1 độ. Cơ số đạn bao gồm: 151(hoạt động trên bộ)/ 100(hoạt động dưới nước) viên đạn pháo 105mm; 1050 viên đạn .50cal và 2000 viên đạn .30cal.
LVTP5 THÔNG SỐ
Tổ lái+hành khách: 3 + 34 người
Trọng lượng chiến đấu: 39,8t(bộ); 38,2t(thuỷ)
Chiều dài toàn bộ: 9,04m
Chiều ngang toàn bộ: 3,57m
Chiều cao toàn bộ: 4,08m
Chiều cao gầm: 0,28-0,43m
Áp lực mặt đất: 9,2 psi
Động cơ: Continetal LV-1790-1, V12, làm mát bằng chất lỏng, công suất 810hp@2800rpm
Truyền động: Allison CD-850-4A hoặc CD-850-4B 2 số tiến, 1 số lùi
Dung tích nhiên liệu: 1726l
Tầm hoạt động:305km(đường)/ 91km(dưới nước)
Tốc độ tối đa:48km/h(đường)/ 11km/h(dưới nước)
Lên dốc: 31 độ
Vượt hào: 3,6m
Vượt vật cản đứng: 0,9m
LVTP5
Thân xe LVTP5 có cấu tạo tương tự như LVTH6, tuy nhiên khẩu lựu pháo được bỏ đi để lấy chỗ cho bộ binh. Lái xe vẫn ngồi ở góc trái trước xe, còn xa trưởng ngồi ở góc phải. Cả hai đều có cupola gắn 5 kính quan sát tiềm vọng M17 ở mặt hướng ra ngoài và 1 kính tiềm vọng M17C daì hơn ở mặt hướng vào trong. Một cupola khác gắn 1 súng máy .30cal cũng có thể được lắp ở giữa vị trí lái xe và xa trưởng. Cupola này được vận hành bằng sức người, có 5 lỗ kính quan sát và 1 kính nhắm tiềm vọng. Cũng giống như trên LVTH6, mỗi bên sườn xe đều có một hách thoát hiểm. Trên nóc xe có 4 hách ra vào(2 hách trên khoang hành khách và 2 trên khoang động cơ) cùng 1 cửa xếp lớn. Chổ ngồi cho hành khách bao gồm 2 bộ băng ghế gấp dọc theo tường và 2 bộ ghế khác gắn dọc theo trung tâm xe và 1 chân đế có thể điều chỉnh độ cao dành cho xạ thủ súng máy. Các bộ ghế và chân đế có thể tháo ra khi xe được dùng để chở hàng.
Tổ lái của xe bao gồm lái xe, phụ lái và xa trưởng. Mặc dù có đủ chổ cho 34 binh sĩ vũ trang đầy đủ, tuy nhiên khi hoạt động dưới nước, số hành khách giảm chỉ còn 25.
Tổng số lượng LVTP5 được chấp nhận là 1123 chiếc.
[/size]Bên trong LVTP5[/size]
Cupola gắn súng máy
LVTC5/ LVTP5(CMD) THÔNG SỐ
Tổ lái: 10 ngưòi
Trọng lượng chiến đấu: 32,9t
Chiều dài toàn bộ: 9,04m
Chiều ngang toàn bộ: 3,57m
Chiều cao toàn bộ: 3,06m
Chiều cao gầm: 0,28-0,43m
Áp lực mặt đất: 6,8 psi
Động cơ: Continetal LV-1790-1, V12, làm mát bằng chất lỏng, công suất 810hp@2800rpm, nhiên liệu xăng.
Truyền động: Allison CD-850-4A hoặc CD-850-4B 2 số tiến, 1 số lùi
Dung tích nhiên liệu: 1726l
Tầm hoạt động:305km(đường)/ 91km(dưới nước)
Tốc độ tối đa:48km/h(đường)/ 11km/h(dưới nước)
Lên dốc: 31 độ
Vượt hào: 3,6m
Vượt vật cản đứng: 0,9m
LVTC5
Phiên bản chỉ huy cuả dòng LVTP5 được hãng Ingersoll Kalamazoo thiết kế năm 1955, lấy tên hiệu LVTCRX1, về sau lấy tên LVTP5(CMD) hoặc LVTC5. Khoang hành khách và hàng hoá được hoán cải để mang 9 bộ radio. Các tính năng thể hiện cuả xe tương tự như LVTP5. Số lượng xe được chấp nhận là 58 chiếc.
LVTR1 THÔNG SỐ[/color]
Tổ lái: 3 người
Trọng lượng chiến đấu: 37,3t
Chiều dài toàn bộ: 9,04m
Chiều ngang toàn bộ: 3,57m
Chiều cao toàn bộ: ?
Chiều cao gầm: 0,28-0,43m
Áp lực mặt đất: 7,75 psi
Động cơ: Continetal LV-1790-1, V12, làm mát bằng chất lỏng, công suất 810hp@2800rpm, nhiên liệu xăng
Truyền động: Allison CD-850-4A hoặc CD-850-4B 2 số tiến, 1 số lùi
Dung tích nhiên liệu: 1726l
Tầm hoạt động:305km(đường)/ 91km(dưới nước)
Tốc độ tối đa:48km/h(đường)/ 11km/h(dưới nước)
Lên dốc: 31 độ
Vượt hào: 3,6m
Vượt vật cản đứng: 0,9m
LVTR1
Năm 1954, tập đoàn FMC thiết kế một phiên bản bảo trì và cứu kéo cuả dòng xe LVTP5, lấy tên mã LVTRX1. Xe được trang bị một bộ tời có lực kéo tối đa 27t được cung cấp năng lượng bằng động cơ phụ là loaị động cơ tiêu chuẩn cuả xe tải M38A1. Một cần cẩu cũng được lắp trước xe để tháo ra hay lắp vào động cơ cho các xe khác hoặc dùng để vận chuyển hàng nặng. Một máy hàn cuả hãng General Electric cũng được gắn vào xe, ngoài công dụng dùng để hàn, nó còn có thể dùng để sạc ácquy hoặc cung cấp năng lượng để khởi động động cơ khi hoạt động ở khu vực khí hậu lạnh. Một máy nén khí công suất 142 lít/phút cũng được gắn.
...
Bây giờ rebels đâu chỉ xài RPG7 RPG2 mà cả RPG 29 chứ nhể, Merkava MK IV EAR Troophy - APS còn cháy như chơi huống gì Abrams. Tàu nó cũng EAR APS dữ lắm nhà ta phải nâng cấp Anti tank Weapon System, ATGM không thì chỉ có nước ăn cháo với Type99
Ngày tham gia: 13/12/2008 Bài gửi: 427 Đến từ: TP HCM
gửi: 19.06.2011 Tiêu đề:
Trích dẫn:
Bây giờ rebels đâu chỉ xài RPG7 RPG2 mà cả RPG 29 chứ nhể, Merkava MK IV EAR Troophy - APS còn cháy như chơi huống gì Abrams. Tàu nó cũng EAR APS dữ lắm nhà ta phải nâng cấp Anti tank Weapon System, ATGM không thì chỉ có nước ăn cháo với Type99
Merkava hồi 2006 chả có ERA(không phải EAR) lẫn Trophy APS bác ạ.
ERA thì chưa thấy lắp trên Mer bao giờ.
Còn Trophy thì gần đây mới được trang bị, đọc báo thấy nói thực chiến hạ được 1 quả RPG với 1 quả ATGM.
Loạt bài của 123456 rất hay có đầu tư ...
Việc dính lá cải cũng chuyện thường ở huyện vì thằng nào cũng nổ cho vũ khí mình ...
Các bác Rus Weap nóng nảy quá ...
Đọc thì thấy bác 123456 muốn nói M-1 làm ra để là chiếc tank tốt ( không phải tốt nhất ) và giá mềm để trang bị nhiều được. Cái M-1 Most powerful tank thì nghe nhiều bởi mấy thím phi quân đôi vì ám ảnh thành tích thời Gulf War 1991
Tránh trường thằng German Nazi thiết kế trùm tank PZV, Tiger I / II, E75 100 Maus hay cả thằng Land cruiser như Ratt cuối cùng không sản xuất nhiều nổi và cũng không đủ xăng chạy ) ( này thì các bác ai cũng biết cả rồi )
T-90 của Nga cũng thế vừa vừa nhưng đông
Nhưng Nga giờ không còn như LX nên KHCN không bằng mỹ nổi yếu hơn là điều tất nhiên ...
Các bác fan Nga cứ lôi chuyện 2 T-90 vs 1 M-1 rồi phán
Đến khi 123456 lôi thêm A-10 AH-64 Bradley blah blah thì lại bảo chỉ tính 1 vs 1 ( và đôi khi bác 123456 cũng ngược lại, chỉ đọc sơ sơ ) ...
Mà tôi có thắc mắc là bọn đồng minh Mỹ như Israel Nam Triều có hẳn phòng thủ chủ động như Troophy mà k lẽ bọn Mỹ k đủ Trình chế ra cái hệt Arena sao ...
Bác muine nói AT11 top attack mà coi clip chả thấy với nếu Nga chế được phóng qua nòng top attack thì bộ binh cũng có y hệt top attack nhể, ... rẻ hiệu quà lại không " cần ngắm đến 30 s " như bác nào nói ấy ) ( đầu dò gì mà nóng đến 30s mới nguội chả bằng AT-3D đời cuối của Nga )
Nói lại vụ Arena gì đó bọn đó nghe " đồn " là chỉ chặn đươc missile hay RPG thôi vì tốc độ thấp chứ đạn pháo cối chắc Nga phải mua Iron Dome gắn trên T-90 )
Nghe " đồn " thêm là Mẽo có làm cái anti tank missle CKEM ( " cây " KEM ) gì đó bay cả Mach 6.5 - 2km/s phá giáp bằng động năng. Không phải HEAT để Còn-tắc-lăm cản hay quá nhanh đẻ Arena đỡ. Cũng may mẹo k trang bị trên Abrams không thì Abrams lại vô đối về đánh tầm xa hơn cả Nga ...
February 2007 – A T-72 tank equipped with Explosive Reactive Armor was successfully engaged using CKEM at a range of 3400 meters. The test took place at Eglin Air Force Base, FL
Theo đánh giá ờ-mấy-tơ Không chuyên môn của tôi thì M-1 T-90 ? còn trên phương diện quảng các và thưc chiến của Một mình chỉ M-1 thì M-1Axyz T-90MSabc 10:9.5
Vô đây thấy binh bét chiến đâu hăng say còn thượng tướng thì chém gió thọc dậy bánh xe như con đà... à quên không nên sỉ nhục phụ nữ như con gì ấy bác 123456 nhể ... ) ...
P/S tình cờ đọc được bài này và biết của site forum này mới biết Đại Việt ta có nhiều chuyên gia vũ khí thật bội phục bội phục ...
Tôi xin bác Lethanh cho em vào forum này ạ ... ! ...
Được sửa chữa bởi Weaponology ngày 23.02.2013, sửa lần 1
Thời gian được tính theo giờ [GMT+7giờ] Chuyển đến trang Trang trước1, 2, 3 ... 38, 39, 40
Trang 40 trong tổng số 40 trang
Bạn không có quyền gửi bài viết Bạn không có quyền trả lời bài viết Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn Bạn không có quyền tham gia bầu chọn